Nhiều trường hợp, DN đã đủ điều kiện phá sản nhưng bản thân DN, người lao động, hoặc chủ nợ cũng ngại đệ đơn đề nghị mở thủ tục phá sản ra tòa, bởi chính chủ nợ không muốn khai tử con nợ
Nên quy định nợ quá hạn không có khả năng tính sổ phải lớn hơn tài sản có mới được coi là lâm vào tình trạng vỡ nợ như thông lệ quốc tế. “Nợ quá hạn phải lớn hơn tài sản có mới là phá sản” Luật gia Cao Bá Khoát, Công ty TNHH tư vấn doanh nghiệp K & Cộng sự Tiêu chí nhận dạng đối tượng có nguy cơ lâm vào tình trạng phá sản là “DN, hiệp tác xã không có khả năng tính sổ được các khoản nợ đến hạn từ 200 triệu VND trở lên trong thời gian ba tháng, kể từ ngày chủ nợ có đề nghị thì coi là lâm vào tình trạng phá sản” là chưa hợp lý.
Do đó, nên cân nhắc việc có quan toà chuyên trách về phá sản DN. Chính tâm lý này cũng góp phần khiến cho Luật vỡ nợ không đi vào cuộc sống được. Ngoại giả, cần phổ thông rộng rãi hơn sắc luật này, bởi nhiều DN không biết xử lý như thế nào khi rơi vào tình trạng vỡ nợ, trong khi Luật phá sản có nhiều giá trị tích cực cho cả con nợ, chủ nợ, người cần lao và cả góc cạnh quản lý nhà nước.
Đặc biệt là yếu tố từ cơ quan tố tụng. “Nên mở mang đối tượng áp dụng” Luật sư Trương Thanh Đức, chủ toạ Công ty Luật Basico hệ trọng đến đối tượng ứng dụng Luật vỡ nợ, Ban soạn thảo giải thích nguyên nhân không mở mang đối tượng là vì: “pháp luật hiện hành không quy định các trường hợp thuộc đối tượng này (cá nhân chủ nghĩa, tổ hợp tác, hộ gia đình có đăng ký kinh dinh) phải có đăng ký vốn.
“Nên cân nhắc việc có thẩm phán chuyên trách” Luật sư Hoàng Văn Hướng, Trưởng Văn phòng Luật sư Hoàng Hưng Có một rào cản vô hình, ảnh hưởng rất nhiều đến việc tại sao không vỡ nợ được DN, đó là rào cản tâm lý.
Tuy nhiên, trong số loại hình DN thuộc khuôn khổ vỡ nợ theo luật này có công ty luật TNHH và theo Luật Luật sư năm 2006, loại DN này không có quy định về vốn, không ghi nhận vốn trên Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động. Về vấn đề nghĩa vụ vô hạn, công ty hợp danh và DN tư nhân vẫn được vỡ nợ, mặc dầu theo quy định tại Điều 130, Luật Doanh nghiệp 2005, thì Công ty hợp danh là DN có nhân cách pháp nhân, nhưng các thành viên hợp danh phải “chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các trách nhiệm của công ty”.
Tuy nhiên, ngay cả một tỉnh lớn như tỉnh Đồng Nai, cơ quan tố tụng cũng đã “ngâm” hơn 1 năm trời mà không thụ lý đơn. Và theo quy định tại khoản 1, Điều 141, Luật Doanh nghiệp 2005, thì “DN tư nhân là DN do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng quờ quạng tài sản của mình về mọi hoạt động của DN”, nghĩa là chịu bổn phận vô biên như cá nhân, tổ hợp tác, hộ gia đình.
Dưới đây là ý kiến của một số Luật sư trong cuộc trao đổi với ĐTCK về một số điểm cần tiếp chỉnh lý để Dự luật vỡ nợ sửa đổi khả thi hơn khi đi vào cuộc sống. Do đó, cần phải xem xét mở mang đối tượng ứng dụng đối với một số chủ thể khác như tổ hiệp tác và hộ kinh doanh có đăng ký kinh dinh.
Mặt khác, theo quy định của pháp luật dân sự, các đối tượng này phải chịu trách nhiệm bằng ắt tài sản”. Chúng tôi đã từng tư vấn cho một trường hợp DN tự xin vỡ nợ khi thấy đủ điều kiện.
Do phá sản là một thủ tục tố tụng riêng nhưng lại không có chỉ dẫn cụ thể, rõ ràng, chẳng hạn khi Tòa án thông tin 2 lần cho chủ nợ mà không đến (có thể là do đổi thay trụ sở, địa điểm nên không nhận được thông tin) thì liệu có bị mất quyền như trong thủ tục tố tụng dân sự? Bởi vậy, cần có trình tự, thủ tục riêng nhanh gọn hơn cho thủ tục phá sản, có thể chỉ dẫn riêng trong một nghị định.
Sở dĩ như vậy bởi bối cảnh kinh tế khó khăn khiến hàng chục ngàn DN giải tán, dừng hoạt động mỗi năm, nhưng sau 9 năm kể từ khi Luật vỡ nợ hiện hành có hiệu lực, mới chỉ có 83 trường hợp chính thức được vỡ nợ theo luật này. Cố nhiên, sẽ có những lý do được đưa ra, nhưng không thể phủ nhận tâm lý “ngại” việc, bởi vỡ nợ DN là việc phức tạp, rất nhiều vấn đề từ tuổi giám định, coi xét, ra quyết định mở thủ tục vỡ nợ, rồi thành lập tổ quản lý thanh lý tài sản, xử lý công nợ… Trong khi đó, do có ít vụ vỡ nợ nên các thẩm phán chưa tạo thành kỹ năng.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét